SỔ BẢO HIỂM XÃ HỘI - CÔNG CỤ QUẢN LÝ BẢO HIỂM XÃ HỘI MINH BẠCH

24/03/2020 05:01 PM


Cơ chế quản lý bảo hiểm xã hội trước năm 1995 dưới góc độ tài chính

Sự nghiệp bảo hiểm xã hội (BHXH) thực hiện trước năm 1995 chủ yếu là do ngân sách nhà nước đài thọ dưới hình thức dự toán, cấp ngân sách. Cơ chế này được biểu hiện rõ nét tập trung giai đoạn từ tháng 9/1985 đến tháng 12/1994 – giai đoạn thực hiện chính sách BHXH theo Nghị định số 236-HĐBT ngày 19/8/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).

Để bảo đảm nguồn chi trả BHXH giai đoạn này, Ngân sách nhà nước phải duy trì cơ chế cấp bổ sung kinh phí sau khi cân đối nguồn thu BHXH[i].

Trước tháng 9/1985, thẩm quyền xét duyệt, giải quyết chế độ hưu trí, mất sức lao động (MSLĐ) được phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện và Trưởng Ty (Giám đốc Sở) các ngành. Ty Thương binh Xã hội (nay là Sở LĐTB&XH) thực hiện quản lý và chi trả. Cơ chế này vô hình trung giúp ngành, địa phương nới lỏng các ràng buộc pháp lý trong giải quyết chế độ hưu trí và MSLĐ để thuận lợi việc sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế dưới quan điểm bảo đảm chính sách đối với người có cống hiến.

Từ tháng 9 năm 1985 trở đi, số người nghỉ hưởng lương hưu, MSLĐ tăng nhanh do giảm điều kiện để hưởng chế độ hưu trí, MSLĐ theo nhiều văn bản quan trọng của Hội đồng Bộ trưởng để thực hiện chính sách đối với người lao động: Quyết định số 227-HĐBT ngày 29/12/1987 về sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế các cơ quan hành chính sự nghiệp; Quyết định số 111-HĐBT ngày 12/4/1991 về một số chính sách trong sắp xếp biên chế khu vực HCSN; Quyết định số 176-HĐBT ngày 09/10/1989 về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước).

Mặt khác, mức lương hưu lúc bấy giờ được tính căn cứ vào thời gian công tác được quy đổi theo hệ số 1,2; 1,4; 1,6[ii] và mức tiền lương làm căn cứ tính lương hưu là mức tiền lương cuối cùng khi nghỉ (mức lương cao nhất của quá trình làm việc).

Có thể thấy trong giai đoạn này người lao động và người sử dụng lao động mới chỉ đóng góp một phần nhỏ vào Quỹ BHXH, dẫn đến mất cân bằng quỹ BHXH, nguyên tắc đóng – hưởng của Quỹ BHXH không được bảo đảm. Thực trạng này làm cho khả năng cân đối của ngân sách nhà nước yếu đi, gánh nặng bảo đảm an sinh xã hội ngày càng tăng lên.

Vì vậy, để sự nghiệp BHXH tồn tại và phát triển bền vững trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường, đòi hỏi tất yếu phải đổi mới cơ chế quản lý và chính sách BHXH.

Làn gió mới của cơ chế quản lý và chính sách bảo hiểm xã hội

Ngày 23 tháng 6 năm 1994, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX đã thông qua Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995 đánh dấu bước ngoặc thay đổi về cơ chế quản lý và chính sách BHXH. Trong đó, có 13 điều (từ Điều 140 đến Điều 152) tại Chương 12 quy định về bảo hiểm xã hội.

Thực hiện Điều 150 Bộ Luật Lao động năm 1994, ngày 26 tháng 01 năm 1995, Chính phủ đã ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định 12/CP trên cơ sở thiết kế lại Nghị định 43/CP[iii] với những quan điểm và nội dung đổi mới căn bản, đó là:

(1) Hướng tới sự cân đối giữa mức đóng và mức hưởng. Thời gian nghỉ hưởng và mức hưởng được tính tỷ lệ thuận với thời gian đóng và mức đóng.  Điều chỉnh lại điều kiện tuổi đời và số năm công tác có đóng BHXH đối với người nghỉ hưu hàng tháng, cho nghỉ chờ hưu đối với người đủ năm công tác đóng BHXH nhưng chưa đủ tuổi. Theo đó, chính sách thiết kế lại nhằm bảo đảm bảo sự tương quan hợp lý giữa hưởng thụ sau khi về nghỉ với quá trình đóng góp khi còn làm việc thông qua điều chỉnh lại hai yếu tố: (i) tỷ lệ lương hưu từ 75% đến 95%[iv] xuống 45% đến 75%; (ii) mức tiền lương làm căn cứ để tính lương hưu từ mức lương tháng cuối cùng trước khi nghỉ sang tính mức lương hưu bình quân 5 năm trước khi nghỉ hoặc bình quân gia quyền các mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH chung của thời gian đóng BHXH vừa theo tiền lương trong hệ thống thang lương, bảng lương do nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH không theo các mức lương trong các hệ thống thang lương, bảng lương của nhà nước.

(2) Mở rộng hơn độ tuổi nghỉ hưu bên cạnh việc quy định trần tuổi nghỉ hưu áp dụng chung cho mọi đối tượng, có tính đến mức tuổi giảm và mức tuổi tăng đối với các trường hợp cá biệt như người lao động làm việc trong các ngành nghề nặng nhọc độc hại; người lao động có trình độ cao...;

(3) Lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm về BHXH tự nguyện và quy định chính sách BHXH tự nguyện;

(4) Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. Đối với hình thức BHXH bắt buộc, người sử dụng lao động hàng tháng đóng vào Quỹ BHXH bằng 15% tổng quỹ tiền lương, trong đó 10% để thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất, 5% để thực hiện chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Người lao động hàng tháng đóng 5% tiền lương vào Quỹ BHXH để thực hiện chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. Quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ.

Vai trò của Sổ bảo hiểm xã hội trong quản lý BHXH

Về đổi mới cơ chế quản lý BHXH thì ngoài việc hình thành Quỹ BHXH, hệ thống tổ chức BHXH, cần phải thay đổi phương thức quản lý BHXH, tức quản lý BHXH trên cơ sở Sổ BHXH. Bởi vì, Quỹ BHXH hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, mà Sổ BHXH chính là công cụ quản lý một cách khoa học các đối tượng tham gia BHXH; giúp chúng ta xác định rõ ràng, minh bạch đầy đủ quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH theo luật định, đó là quyền và trách nhiệm của người lao động, quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động và quyền và trách nhiệm của Nhà nước (mà tổ chức BHXH là cơ quan được nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý Quỹ BHXH). Mặt khác, bản thân người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế có đóng BHXH đều được cấp Sổ BHXH, theo đó, họ bình đẳng trước pháp luật về quyền hưởng BHXH, điều này giúp xã hội rũ bỏ tâm lý phân biệt đối xử giữa lao động làm việc ở khu vực ngoài nhà nước với lao động làm việc trong nhà nước. Đồng thời, với hình thức quản lý bằng sổ, sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển lao động từ thành phần kinh tế này, địa phương này, đơn vị này sang thành phần kinh tế khác, địa phương khác, đơn vị khác; góp phần thúc đẩy quá trình phân công, điều tiết lao động xã hội, điều chỉnh quan hệ lao động và bảo đảm hài hòa quan hệ lao động.

Từ những quy định của pháp luật BHXH thì Sổ BHXH có thể xem như một Khế ước an sinh bắt buộc, nhưng nó lại thuộc sở hữu của người lao động (sở hữu quá trình đóng BHXH). Với thuộc tính này, sổ BHXH không chỉ là căn cứ thực hiện pháp luật BHXH mà còn được xã hội thừa nhận giá trị của nó - chúng ta có thể cảm nhận được khi hồi tưởng về sổ gạo (sổ mua lương thực) thời bao cấp

Như vậy, cho thấy việc cấp Sổ BHXH cho người lao động làm việc có đóng BHXH là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, phù hợp với việc chuyển đổi cơ chế quản lý và chính sách BHXH trong tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế của đất nước.

Theo đó, ngày 09 tháng 10 năm 1995, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành Quyết định số 1443/QĐ-LĐTB&XH và ngày 26 tháng 4 năm 1996 ban hành Thông tư số 09/LĐTB&XH/TT về việc hướng dẫn cấp và ghi Sổ BHXH. Ngày 22 tháng 6 năm 1996, Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam đã ký Quyết định số 113/BHXHVN/QĐ về ban hành quy định cấp và quản lý sổ BHXH.

Vậy sổ bảo hiểm xã hội là gì ?

Khác với sổ Lao động, sổ BHXH dùng để ghi chép quá trình làm việc và đóng BHXH của người lao động tham gia BHXH. Sổ BHXH không chỉ là cơ sở quyền lợi của người lao động, mà còn là căn cứ để cơ quan BHXH giải quyết các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật và đòi hỏi người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đầy đủ BHXH cho người lao động.

Sổ BHXH ghi nhận toàn bộ quá trình công tác có đóng BHXH. Quá trình công tác có đóng BHXH ở đây được hiểu bao gồm thời gian công tác và đóng BHXH trước và sau năm 1995 đối với người lao động làm việc trong khu vực nhà nước; trước và sau năm 1998 đối với cán bộ xã.

Để ghi sổ BHXH phải dựa trên các căn cứ: (i) Đối với người lao động có quá trình công tác trước năm 1995 và cán bộ xã có quá trình công tác trước năm 1998 thì căn cứ vào hồ sơ cán bộ; (ii) đối với thời gian công tác từ năm 1995 và 1998 thì căn cứ vào quá trình đóng BHXH của người lao động theo qui định của pháp luật BHXH.

 

Sổ BHXH

Năm 1996, việc cấp sổ BHXH trở thành công tác trọng tâm và được toàn ngành BHXH triển khai hết sức tích cực, đó là cấp sổ BHXH cho gần 03 triệu người lao động đang tham gia BHXH. Quan điểm chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam là khẩn trương nhưng tuyệt đối không chạy theo số lượng, bảo đảm phải đúng và chính xác trong từng bước, từng khâu xét duyệt hồ sơ cấp sổ. Từ ngày 01/07/1996, công tác cấp sổ BHXH được triển khai trong cả nước.

Thừa Thiên Huế là tỉnh chủ động triển khai sớm công tác cấp sổ BHXH với quan điểm thận trọng, chặt chẽ, bảo đảm chính xác từng cuốn sổ, từng tiêu chí về nhân thân, quá trình công tác và đóng BHXH.

Với quan điểm thận trọng, công tác cấp sổ BHXH ở tỉnh Thừa Thiên Huế được thực hiện với những bước đi chặt chẽ, cụ thể: (i) Xây dựng kế hoạch triển khai công tác cấp sổ trên phạm vi toàn tỉnh; (ii) Tổ chức tập huấn sâu đối với cán bộ, công chức trong ngành, bao gồm: nghiệp vụ thẩm định hồ sơ có thời gian công tác trước năm 1995, phương pháp đối chiếu hồ sơ với thông tin ghi sổ, cách thức kết nối, xâu chuỗi thời gian công tác trước thời điểm trước 1995, 6 tháng đầu năm 1995 cùng với quá trình đóng BHXH tại các đơn vị sử dụng lao động từ ngày 01/7/1995; (iii) Xây dựng tiến độ thực hiện hoàn thành trong thời hạn 2 năm theo chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam; (iv) Ban hành văn bản hướng dẫn và tổ chức tập huấn đến tất cả các đơn vị sử dụng lao động trên phạm vi toàn tỉnh (khoảng 15 hội nghị tập huấn được triển khai); (v) Phương châm thực hiện là hồ sơ đủ đến đâu, thẩm định, xét duyệt đến đó theo ngành, khối, địa phương, đơn vị sử dụng lao động, không cầu toàn trong thẩm định, xét duyệt hồ sơ cấp sổ BHXH.

Quá trình thẩm định, xét duyệt hồ sơ cấp sổ đối với người lao động có thời gian công tác trước năm 1995 rất khó khăn; càng đặc biệt khó khăn đối với cán bộ công chức có thời gian hoạt động cách mạng dưới chế độ cũ hoặc cán bộ xã, phường có thời gian công tác trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chỉ một yếu tố thẩm định, xét duyệt không đúng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động, thậm chí liên quan đến cả quyền lợi chính trị của người lao động nếu có hoặc ngược lại vô hình trung xác nhận sai sự thật về quá trình hoạt động, thời gian công tác từ không thành . Để thẩm định, xét duyệt đối với những hồ sơ này, Bảo hiểm xã hội tỉnh chỉ phân công một vài cán bộ có kinh nghiệm trong công tác giải quyết chế độ và lãnh đạo Bảo hiểm xã hội tỉnh sẽ phê duyệt từng trường hợp một trước khi cấp sổ.

Áp lực công việc cấp sổ tăng lên khi Chính phủ ban hành Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26 tháng 7 năm 1995 về sửa đổi chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường. Theo đó, cán bộ xã, phường trong định biên có mặt trên danh sách hưởng sinh hoạt phí ngày 01/01/1998 được đóng BHXH và thời gian công tác trước năm 1998 được tính là thời gian đóng BHXH. Theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức triển khai nhiệm vụ thẩm định, xét duyệt cấp sổ BHXH đối với cán bộ xã, phường song song với việc cấp sổ BHXH đã thực hiện từ trước.

Tiến độ thực hiện công tác cấp sổ BHXH cơ bản đáp ứng yêu cầu chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện còn một số hạn chế: (i) một số cán bộ vẫn chưa nhận thức hết những khó khăn, phức tạp của khâu xét duyệt, thẩm định; (ii) hồ sơ của người lao động và người sử dụng lao động cung cấp không đầy đủ, thiếu tính pháp lý, chắp vá, hồ sơ cấp sổ để kéo dài qua nhiều năm; (iii) quy trình quản lý sổ, cấp số sổ không chặt chẽ; (iii) nghiệp vụ xét duyệt để công nhận cấp sổ BHXH trong giai đoạn đầu thiếu chặt chẽ.

Nhận thức công tác cấp sổ có những khó khăn và phức tạp, nhưng để bảo đảm quyền lợi của người lao động và theo chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội tỉnh đã quán triệt và giám sát chặt chẽ chốt chặn cuối là khâu giải quyết chế độ BHXH, chốt bảo lưu thời gian đóng BHXH trên sổ BHXH trong quá trình từng bước hoàn thiện sổ.

Để hoàn thiện sổ BHXH trước khi cập nhật thông tin trên sổ BHXH vào phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý người tham gia BHXH và bàn giao sổ BHXH cho người lao động theo Công văn số 4027/BHXH-ST ngày 14/10/2016 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, toàn ngành Bảo hiểm xã hội đã nỗ lực làm ngày, làm đêm rà soát, hoàn thành sổ BHXH và trả sổ BHXH cho người lao động kết thúc trong năm 2019.

Có thể nói, sau 23 năm tính từ năm 1996, sổ BHXH đã và đang thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình trong vai trò là công cụ quản lý BHXH minh bạch được pháp luật bảo đảm cùng với quyền và trách nhiệm của các bên trong quan hệ BHXH, nhất là quyền lợi, vị thế của người lao động được ghi rõ trên sổ BHXH khẳng định quan điểm an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước.

Nguyễn Xuân Tiếu

 

[i]Nguồn thu BHXH theo quy định giai đoạn này bao gồm: 3,7% tiền lương của CBCC do ngân sách nhà nước đài thọ và được ngành Tài chính chuyển cấp; 3,7% tiền lương của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước do cơ quan Thuế chuyển trả; ngành LĐTB&XH trực tiếp thu 3,7% BHXH đối với các tổ chức nước ngoài, phi chính phủ có người lao động Việt Nam làm việc.

[ii]Thời gian công tác quy đổi theo hệ số 1,2; 1,4; 1,6 được quy định tại Nghị định số 236-HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng.

[iii]Cụ thể hóa các quy định tại Hiến pháp 1992, ngày 22/06/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP quy định tạm thời chế độ BHXH. Theo đó, việc thực hiện 05 chế độ BHXH bao gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất được áp dụng bắt buộc đối với công nhân, viên chức thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp, lực lượng vũ trang, các tổ chức Đảng, Đoàn thể; người lao động làm việc hưởng lương hoặc tiền công ở những doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên; người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài và trong các tổ chức khác của nước ngoài tại Việt Nam và người lao động Việt Nam làm việc trong khu chế xuất, khu kinh tế đặc biệt.

[iv]Nghị định số 236-HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng